Vị trí: Thuộc quận Ba Đình, phía tây bắc trung tâm thành phố Hà Nội.
Đặc điểm:
Hồ Trúc Bạch là một thắng cảnh của Hà Nội, nằm kề hồ Tây, cách nhau con
đường Thanh Niên rợp mát bóng cây, bốn mùa đều hấp dẫn mọi người đến
thưởng ngoạn, nghỉ ngơi.
Xưa kia hồ Trúc Bạch, hồ Tây với cả hồ
Cổ Ngựa (ở vào khoảng phố Hàng Than bây giờ, đã bị lấp thành bằng địa
từ khi Pháp mới chiếm Hà Nội) đều nối liền nhau. Đó chính là một đoạn
dòng cũ của sông Hồng. Về sau, người ta đắp ngăn thành ba hồ.
Sách
Long thành dật sự có ghi rõ rằng: Hồ Tây mặt nước rất rộng, đáy sâu và
thường có sóng lớn. Riêng có phần hồ thuộc địa phận làng Trúc Yên là
nước nóng, ít sóng, nhiều bùn tốt nên lắm cá tụ về. Năm Vĩnh Tộ thứ 2
đời Lê Thần Tôn (1620), dân làng Yên Phụ và làng Yên Quang (khu vực đầu
phố Cửa Bắc đến đền Quán Thánh ngày nay) hợp sức với dân làng Trúc Yên,
đắp một con đập từ đầu làng Yên Phụ nối với đầu làng Yên Quang để chắn
giữ lấy cá làm nguồn lợi cho cả ba làng. Đập ấy gọi là Cố Ngự Yển, tức
đập Cố Ngự, có nghĩa là giữ vững. Để kỷ niệm việc này, người ta có dựng
một bia lớn ở phía đầu làng Yên Quang. Đập Cố Ngự mỗi năm lại được đắp
rộng ra, thành một con đê, rồi thành đường đi. Sau này, có lẽ do việc
viết chữ Pháp hoặc quốc ngữ không có dấu, người ta đọc là Cổ Ngư thay
cho Cố Ngự.
Cũng theo sách Long thành dật sự, thì làng Trúc Yên
có nghề làm mành trúc, nên các nhà dân đều trồng trúc thành rừng, để
làm nguyên liệu. Đời vua Lê Ý Tôn (1735 - 1738), chúa Trịnh Giang lấy
một khu đất của làng Trúc Yên cho xây một toà biệt điện làm nơi tĩnh
dưỡng, gọi là Trúc Tâm Viện. Chỉ được vài năm, biệt điện này thành một
lãnh cung để an trí các cung nữ bị tội. Các cung nữ bị an trí ở đó phải
tự làm việc kiếm sống. Họ phần nhiều là người khéo tay, nên dệt lụa khá
đẹp, được các nơi rất ưa dùng. Rồi nhân dân gọi thành quen thứ lụa của
các cung nữ dệt là "lụa làng Trúc", tức "Trúc bạch". Đã có những câu
ca:Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng. Cũng từ đó, phần hồ Tây phía làng
Trúc Yên cũng được gọi là hồ Trúc Bạch. Cũng từ thời ấy, triều chính Lê
- Trịnh ngày thêm đổ nát. Số cung nữ ở làng Trúc Yên không còn ai bị
kiềm thúc nữa. Năm Chiêu Thống thứ hai (1788) vì muốn báo thù, Chiêu
Thống cho đốt hết cung điện của chúa Trịnh, Trúc Tâm Viện cũng bị thành
tro tàn...
Nhưng vẫn còn làng Trúc Yên với nghề mành, nghề lụa.
Đê Cổ Ngư sau thành đường rộng Cổ Ngư. Những năm sau cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, hoà bình lập lại, đường Cổ Ngư đã được thanh niên
Hà Nội và nhân dân cùng góp công sức, qua những ngày lao động xã hội
chủ nghĩa, kiến tạo thành con đường Thanh Niên. Ngày nay, các làng Yên
Phụ, Yên Quang, Trúc Yên đều đã thành phố xá đông vui. Hồ Trúc Bạch đã
trở thành một địa danh nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng. Người trong Nam
ra, ngoài Bắc về Thủ đô đều muốn đến hồ Tây, hồ Trúc Bạch, đi dạo trên
con đường Thanh Niên rợp bóng phượng hồng và bằng lăng tím, thả hồn
trải rộng miên man với nước hồ và gió trời. Người xưa đã vớt bùn đất
lên, tạo đập Cổ Ngư, thành đường Cổ Ngư xưa và đường Thanh Niên hôm
nay... Còn người Hà Nội ngày nay vẫn đang có những việc phải làm cho
Trúc Bạch, đó là quy hoạch, giữ gìn cho hồ nước không bị teo hẹp lại và
lúc nào cũng thanh sạch, đẹp tươi.